TÔI YÊU VIỆT NAM

tronganh's Avatar

CHÀO NĂM MỚI 2017

CÁC WEBSITE

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tài nguyên dạy học

    Góc quà tặng

    Newyear5.swf Alishan_lady_flute12.swf DMLACHONG2.swf Mot_ngay_moi.swf Ngay_Xua_Hoang_Thi11.swf Son_nu_ca__Anh_Tuyet.swf NGUOIME.swf 12903538341562907327_574_0.jpg Tet2.swf TET_1_VO.bmp HAPPY_9.swf 0.Doi-Mat-PleiKu.mp3 Mung_Giang_Sinh_20104.flv Giang_sinh2.swf _nature9642614.gif Hoi_co_lai_doxong.swf MOINGAY2.swf Thay.jpg Video_hai_hoai_linh_t_chc_cuc_thi_chim__CUI_Hoi_B_Net1.flv YouTube__Tinh_Yeu_Tro_Lai__Cao_Thai_Son_Vol_7__Maria_Ozawa.flv

    ******* TRA TỪ ĐIỂN *******


    Tra theo từ điển:



    ******XEM ĐIỂM THI ********

    NGHE NHẠC

    NGƯỜI ĐẾN THĂM

    1 khách và 0 thành viên

    TIN ONLINE

    DU LỊCH VIỆT NAM

    ** NGHE ĐÀI FM **

    • VOV1
    • VOV2
    • VOV3
    • VOV5
    VOV Player

    *** LỊCH TRUYỀN HÌNH ***

    LỊCH VẠN NIÊN

    TÌM VIỆC NHANH

    Gốc > TƯ LIỆU TOÁN THCS >

    Olympic Toán quốc tế


    International Mathematical Olympiad
    (Olympic Toán quốc tế)
    IMOLogo 400px.png

    Olympic Toán quốc tế (International Mathematical Olympiad, thường được viết tắt là IMO) là một kì thi Toán học cấp quốc tế hàng năm dành cho học sinh trung học phổ thông.

    Lịch sử

    Kì thi IMO đầu tiên được tổ chức tại Rumani năm 1959 với sự tham gia của 7 quốc gia Đông Âu là chủ nhà Rumani, Bulgaria, Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungary, Ba LanLiên Xô. Trong giai đầu, IMO chủ yếu là cuộc thi của các quốc gia thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa và địa điểm tổ chức cũng chỉ trong phạm vi các nước Đông Âu.[cần dẫn nguồn] Bắt đầu từ thập niên 1970, số lượng các đoàn tham gia bắt đầu tăng lên nhanh chóng và IMO thực sự trở thành một kì thi quốc tế về Toán dành cho học sinh.

    Cho đến nay kì thi được tổ chức liên tục hàng năm, trừ duy nhất năm 1980. Kì IMO có số lượng đoàn tham gia đông đảo nhất tính đến IMO 2007 chính là kì IMO 2007 tổ chức tại Hà Nội, Việt Nam với 93 đoàn tham dự, trong đó có sự góp mặt lần đầu của đoàn Campuchia, Ả Rập Saudi và sự trở lại sau nhiều năm vắng bóng của đoàn Bắc Triều Tiên[1].

    Mỗi đoàn tham dự được phép có tối đa 6 thí sinh, một trưởng đoàn, một phó đoàn và các quan sát viên. Theo quy định, thí sinh tham gia phải dưới 20 tuổi và trình độ không được vượt quá cấp trung học phổ thông (secondary school hay high school trong tiếng Anh, hay lycée trong tiếng Pháp), vì vậy một thí sinh có thể tham gia tới 5 hoặc 6 kì IMO, riêng với Việt Nam do quy định của việc chọn đội tuyển, một thí sinh chỉ tham dự được nhiều nhất là hai kì.

    Cách thức ra đề, thi và chấm thi

    Mỗi bài thi IMO bao gồm 6 bài toán, mỗi bài tương đương tối đa là 7 điểm, có nghĩa là thí sinh có thể đạt tối đa 42 điểm cho 6 bài. 6 bài toán này sẽ được giải trong 2 ngày liên tiếp, mỗi ngày thí sinh giải 3 bài trong thời gian 270 phút.

    Các bài toán được lựa chọn trong các vấn đề toán học sơ cấp, bao gồm 4 lĩnh vực hình học, số học, đại sốtổ hợp. Bắt đầu từ tháng 3 hàng năm, các nước tham gia thi được đề nghị gửi các đề thi mà họ lựa chọn đến nước chủ nhà, sau đó một ban lựa chọn đề thi của nước chủ nhà sẽ lập ra một danh sách các bài toán rút gọn bao gồm những bài hay nhất, không trùng lặp đề thi IMO các năm trước hoặc kì thi quốc gia của các nước tham gia, không đòi hỏi kiến thức toán cao cấp, không quá khó hoặc quá dễ nhưng yêu cầu được thí sinh phải vận dụng hết khả năng suy luận và kiến thức toán được học. Một vài ngày trước kì thi, các trưởng đoàn sẽ bỏ phiếu lựa chọn 6 bài chính thức, chính họ cũng sẽ là người dịch đề thi sang tiếng nước mình để thí sinh có thể giải toán bằng tiếng mẹ đẻ, sau đó các vị trưởng đoàn sẽ được cách ly hoàn toàn với các thí sinh để tránh gian lận.

    Bài thi của thí sinh sẽ được ban giám khảo và trưởng đoàn của thí sinh đó chấm song song, sau đó hai bên sẽ hội ý để đưa ra kết quả cuối cùng. Giám khảo và trưởng đoàn đều có thể phản biện cách chấm của nhau để điểm bài thi đạt được là chính xác nhất. Nếu hai bên không thể đi tới đồng thuận thì người quyết định sẽ là trưởng ban giám khảo và giải pháp cuối cùng là tất cả các trưởng đoàn bỏ phiếu. Riêng bài thi của thí sinh nước chủ nhà sẽ do giám khảo đến từ các nước có đề thi được chọn chấm.

    Giải thưởng

    Tại IMO việc xét giải chỉ là cho cá nhân từng thí sinh tham gia thi, còn việc xếp hạng thành tích các đoàn đều do các nước tham gia tự tính toán và không có ý nghĩa chính thức.

    Giải thưởng của IMO bao gồm huy chương vàng, huy chương bạc và huy chương đồng được trao theo điểm tổng cộng mà thí sinh đạt được. Số thí sinh được trao huy chương là khoảng một nửa tổng số thí sinh, điểm để phân loại huy chương sẽ theo nguyên tắc tỉ lệ thí sinh đạt huy chương vàng, bạc, đồng sẽ là 1:2:3. Các thí sinh không giành được huy chương nhưng giải được trọn vẹn ít nhất 1 bài (7/7 điểm) sẽ được trao bằng khen.

    Ngoài ra, ban tổ chức IMO còn có thể trao các giải thưởng đặc biệt cho cách giải cực kì sáng tạo hoặc tổng quát hóa vấn đề nêu ra trong bài toán. Giải này phổ biến trong thập niên 1980 nhưng gần đây ít được trao hơn, lần cuối cùng giải thưởng đặc biệt được trao là năm 2005. Thí sinh đoàn Việt Nam từng đạt giải thưởng này là Lê Bá Khánh Trình tại IMO 1979.

    Danh sách các kì thi Olympic

    Năm Quốc gia
    đăng cai
    Thành phố Thời gian Tổng số
    đoàn
    Tổng số
    thí sinh
    Đoàn dẫn đầu
    1959 Rumani Braşov 23 tháng 7 - 31 tháng 7 7 52 Rumani
    1960 Rumani Sinaia 18 tháng 7 - 25 tháng 7 5 39 Tiệp Khắc
    1961 Hungary Veszprém 6 tháng 7 - 16 tháng 7 6 48 Hungary
    1962 Tiệp Khắc České Budějovice 7 tháng 7 - 15 tháng 7 7 56 Hungary
    1963 Ba Lan Wrocław 5 tháng 7 - 13 tháng 7 8 64 Liên Xô
    1964 Liên Xô Moskva 30 tháng 6 - 10 tháng 7 9 72 Liên Xô
    1965 Đông Đức Berlin 3 tháng 7 - 13 tháng 7 10 80 Liên Xô
    1966 Bulgaria Sofia 3 tháng 7 - 13 tháng 7 9 72 Liên Xô
    1967 Nam Tư Cetinje 2 tháng 7 - 13 tháng 7 13 99 Liên Xô
    1968 Liên Xô Moskva 5 tháng 7 - 18 tháng 7 12 96 Đông Đức
    1969 Rumani Bucharest 5 tháng 7 - 20 tháng 7 14 112 Hungary
    1970 Hungary Keszthely 8 tháng 7 - 22 tháng 7 14 112 Hungary
    1971 Tiệp Khắc Žilina 10 tháng 7 - 21 tháng 7 15 115 Hungary
    1972 Ba Lan Toruń 5 tháng 7 - 17 tháng 7 14 107 Liên Xô
    1973 Liên Xô Moskva 5 tháng 7 - 16 tháng 7 16 125 Liên Xô
    1974 Đông Đức Erfurt 4 tháng 7 - 17 tháng 7 18 140 Liên Xô
    1975 Bulgaria Burgas 3 tháng 7 - 16 tháng 7 17 135 Hungary
    1976 Áo Lienz 7 tháng 7 - 21 tháng 7 18 139 Liên Xô
    1977 Nam Tư Belgrade 1 tháng 7 - 13 tháng 7 21 155 Hoa Kỳ
    1978 Rumani Bucharest 3 tháng 7 - 10 tháng 7 17 132 Rumani
    1979 Anh Luân Đôn 30 tháng 6 - 9 tháng 7 23 166 Liên Xô
    1980 Không tổ chức        
    1981 Hoa Kỳ Washington, D.C. 8 tháng 7 - 20 tháng 7 27 185 Hoa Kỳ
    1982 Hungary Budapest 5 tháng 7 - 14 tháng 7 30 119 Tây Đức
    1983 Pháp Paris 1 tháng 7 - 12 tháng 7 32 186 Tây Đức
    1984 Tiệp Khắc Praha 29 tháng 6 - 10 tháng 7 34 192 Liên Xô
    1985 Phần Lan Joutsa 29 tháng 6 - 11 tháng 7 38 209 Rumani
    1986 Ba Lan Warszawa 4 tháng 7 - 15 tháng 7 37 210 Liên Xô
    Hoa Kỳ
    1987 Cuba Havana 5 tháng 7 - 16 tháng 7 42 237 Rumani
    1988 Úc Canberra 9 tháng 7 - 21 tháng 7 49 268 Liên Xô
    1989 Tây Đức Braunschweig 13 tháng 7 - 24 tháng 7 50 291 Trung Quốc
    1990 Trung Quốc Bắc Kinh 8 tháng 7 - 19 tháng 7 54 308 Trung Quốc
    1991 Thụy Điển Sigtuna 12 tháng 7 - 23 tháng 7 56 318 Liên Xô
    1992 Nga Moskva 10 tháng 7 - 21 tháng 7 56 322 Trung Quốc
    1993 Thổ Nhĩ Kỳ Istanbul 13 tháng 7 - 24 tháng 7 73 413 Trung Quốc
    1994 Hồng Kông Hồng Kông 8 tháng 7 - 20 tháng 7 69 385 Hoa Kỳ
    1995 Canada Toronto 13 tháng 7 - 25 tháng 7 73 412 Trung Quốc
    1996 Ấn Độ Mumbai 5 tháng 7 - 17 tháng 7 75 424 Rumani
    1997 Argentina Mar del Plata 18 tháng 7 - 31 tháng 7 82 460 Trung Quốc
    1998 Đài Loan Đài Bắc 10 tháng 7 - 21 tháng 7 76 419 Iran
    1999 Rumani Bucharest 10 tháng 7 - 22 tháng 7 81 450 Trung Quốc
    Nga
    2000 Hàn Quốc Daejeon 13 tháng 7 - 25 tháng 7 82 461 Trung Quốc
    2001 Hoa Kỳ Washington, D.C. 1 tháng 7 - 14 tháng 7 83 473 Trung Quốc
    2002 Scotland Glasgow 19 tháng 7 - 30 tháng 7 84 479 Trung Quốc
    2003 Nhật Bản Tokyo 7 tháng 7 - 19 tháng 7 82 457 Bulgaria
    2004 Hy Lạp Athena 6 tháng 7 - 18 tháng 7 85 486 Trung Quốc
    2005 Mexico Mérida 8 tháng 7 - 19 tháng 7 91 513 Trung Quốc
    2006 Slovenia Ljubljana 6 tháng 7 - 18 tháng 7 90 498 Trung Quốc
    2007 Việt Nam Hà Nội 19 tháng 7 - 31 tháng 7 93 520 Nga
    2008 Tây Ban Nha Madrid 10 tháng 7 - 22 tháng 7 97 535 Trung Quốc
    2009 Đức Bremen 10 tháng 7 - 22 tháng 7 104 565 Trung Quốc
    2010 Kazakhstan Astana        
    2011 Hà Lan          

    Thống kê liên quan

    • Đoàn đạt thành tích tốt nhất trong một kì IMO là đoàn Hoa Kỳ tại IMO 1994, cả 6 thành viên của đoàn này đều giành huy chương vàng với số điểm tuyệt đối 42/42. Tính chung tất cả các kì IMO thì đoàn có thành tích tốt nhất là đoàn Trung Quốc, trong 22 lần tham gia đoàn này đã đứng đầu toàn đoàn 13 lần trong đó có tới 8 lần cả 6 thí sinh Trung Quốc giành huy chương vàng (IMO các năm 1992, 1993, 1997, 2000, 2001, 2002, 2004 và 2006). Thứ tự 10 đoàn có thành tích tốt nhất[cần dẫn nguồn] tính cho đến nay[cần dẫn nguồn] là:
    Đoàn Số lần
    tham gia
    Huy chương
    vàng
    Huy chương
    bạc
    Huy chương
    đồng
    Giải thưởng
    đặc biệt
    Trung Quốc 22 96 25 5 0
    Liên Xô 29 77 67 45 0
    Hoa Kỳ 33 76 94 29 1
    Hungary 47 72 135 76 4
    Rumani 48 66 107 86 2
    Nga 16 59 28 9 0
    Bulgaria 48 48 88 85 1
    Đức 30 45 70 52 8
    Việt Nam 31 40 78 53 1
    Anh 40 34 78 104 10
    • Cho đến nay đã có hai thí sinh từng 4 lần giành huy chương vàng IMO. Người đầu tiên đạt được thành tích này là Reid Barton (đoàn Hoa Kỳ), Barton giành huy chương vàng tại các kì IMO 1998 (32 điểm), 1999 (34 điểm), 2000 (39 điểm) và 2001 (42/42 điểm). Thí sinh thứ hai là Christian Reiher (đoàn Đức) với các huy chương vàng tại IMO 2000 (31 điểm), 2001 (32 điểm), 2002 (36 điểm) và 2003 (36 điểm). Ngoài ra Reiher còn giành thêm một huy chương đồng tại IMO 1999 (15 điểm), qua đó trở thành người có thành tích cao nhất trong tất cả các kì IMO tính đến nay.
    • Ciprian Manolescu (đoàn Rumani) là thí sinh giành nhiều điểm tuyệt đối (42/42) nhất trong lịch sử IMO. Trong cả ba lần tham dự IMO vào các năm 1995, 1996 và 1997, Manolescu đều giành huy chương vàng với số điểm tuyệt đối.
    • Eugenia Malinnikova (đoàn Liên Xô) là thí sinh nữ có thành tích cao nhất với ba huy chương vàng tại các IMO 1989 (41 điểm), 1990 (42 điểm) và 1991 (42 điểm), tức là chỉ kém duy nhất 1 điểm so với thành tích của Manolescu.
    • Đào Triết Hiên (đoàn Úc) bắt đầu tham gia thi IMO khi mới 11 tuổi vào năm 1986. Đến kì IMO 1988, Đào giành huy chương vàng năm 13 tuổi và trở thành thí sinh trẻ nhất từng giành huy chương vàng tại IMO.
    • Oleg Gol'berg (đoàn NgaMỹ) là thí sinh duy nhất trong lịch sử IMO từng giành huy chương vàng với tư cách là thành viên hai đội tuyển khác nhau, hai huy chương vàng với đoàn Nga tại IMO 2002 (36 điểm), 2003 (38 điểm) và một với đoàn Mỹ tại IMO 2004 (40 điểm).

    [sửa] Các nhà khoa học nổi tiếng từng là thí sinh IMO

    • Tính cho đến năm 2007, đã có tổng cộng 8 người từng là thí sinh thi IMO đã giành được giải thưởng Toán học nổi tiếng bậc nhất thế giới, Giải Fields. Danh sách cụ thể như sau:
    Họ tên Đoàn Thành tích thi IMO Năm được trao
    Giải Fields
    Grigory Margulis Liên Xô HCB IMO 1962 (36 điểm) 1978
    Vladimir Drinfel'd Liên Xô HCV IMO 1969 (40 điểm) 1990
    Jean-Christophe Yoccoz Pháp HCV IMO 1974 (40 điểm) 1994
    Richard Borcherds Anh HCB IMO 1977 (29 điểm)
    HCV IMO 1978
    1998
    Timothy Gowers Anh HCV IMO 1981 1998
    Laurent Lafforgue Pháp HCB IMO 1984 (27 điểm)
    HCB IMO 1985 (25 điểm)
    2002
    Grigori Perelman Liên Xô HCV IMO 1982 (42 điểm) 2006
    Đào Triết Hiên Úc HCĐ IMO 1986 (19 điểm)
    HCB IMO 1987 (40 điểm)
    HCV IMO 1988 (34 điểm)
    2006

    (Ghi chú: HCV, HCB, HCĐ lần lượt là huy chương vàng, huy chương bạc và huy chương đồng)

    • Grigory Margulis đã giành huy chương bạc tại IMO 1962 trong thành phần đoàn Liên Xô. Ông được trao Giải Fields năm 1978, sau đó là Giải Wolf năm 2005. Margulis là một trong số ít ỏi bảy nhà toán học trên thế giới có được cả hai giải thưởng này.
    • Grigori Perelman đã đạt điểm tuyệt đối 42/42 và giành huy chương vàng tại IMO 1982 trong thành phần đoàn Liên Xô. Năm 2006, ông được trao Giải Fields vì đã giải quyết được Giả thuyết Poincaré, một trong những vấn đề toán học lớn nhất của thế kỉ 20 được Henri Poincaré đề ra từ năm 1904. Bài toán này là một trong sáu bài toán được Viện Toán học Clay đặt giải 1 triệu USD cho bất kỳ ai giải được.
    • Đào Triết Hiên giành huy chương vàng IMO 1988 trong thành phần đoàn Úc khi mới 13 tuổi. Cho đến nay đây vẫn là thí sinh trẻ nhất từng giành huy chương vàng trong một kì IMO. Đào được bổ nhiệm làm giáo sư Đại học California tại Los Angeles (UCLA) khi mới 24 tuổi và được đánh giá là Mozart của toán học thế giới. Đào Triết Hiên được trao Giải Fields năm 2006 cùng với Perelman.

     Việt Nam tại IMO


    Nhắn tin cho tác giả
    Trịnh Đình Dũng @ 00:44 01/04/2010
    Số lượt xem: 523
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    kich